Thế nào là viêm đại tràng mạn tính?

Viêm đại tràng mạn là tình trạng tổn thương mạn tính của niêm mạc đại tràng, tổn thương có thể khu trú một vùng hoặc lan toả khắp đại tràng. Đây là một trong những bệnh lý đường tiêu hoá thường gặp ở nhiều nước đang phát triển, trong đó có nước ta. Ở Việt Nam, số người bị viêm đại tràng mạn tính khá cao, khoảng 20% dân số và đang có xu hướng gia tăng.

1. Nguyên nhân của viêm đại tràng mạn

+ Bệnh bắt đầu do nhiễm khuẩn đường ruột cấp, thương hàn, lị trực khuẩn, lị amip và các nhiễm trùng khác.

+ Nguyên nhân dị ứng.

+ Nguyên nhân bệnh tự miễn (viêm đại tràng, loét không đặc hiệu): vì một lý do nào đó chưa rõ viêm niêm mạc đại tràng trở thành kháng nguyên nên cơ thể tạo ra kháng thể chống lại chính niêm mạc đại tràng của bản thân. Phản ứng kháng thể kháng nguyên xảy ra ở một vùng hoặc toàn bộ niêm mạc đại tràng gây tổn thương, đó là hiện tượng “miễn dịch tự miễn”.

+ Rối loạn thần kinh: sau tổn thương thần kinh trung ương và nhất là hệ thần kinh thực vật gây rối loạn vận động, bài tiết lâu ngày, gây tổn thương niêm mạc đại tràng.

+ Sau các trường hợp nhiễm độc: thyroxin, asen, photpho, nhiễm toan máu, ure máu cao…

Sau khi bị dính phải một trong các nguyên nhân trên thì sức đề kháng của niêm mạc đại tràng giảm xuống rõ rệt, sự nuôi dưỡng niêm mạc đại tràng bị suy giảm đi đôi với rối loạn vận động, tiết dịch và sức “chống đỡ bệnh” của niêm mạc giảm nên viêm loét xảy ra dẫn tới hình thành bệnh viêm đại tràng mạn tính.

2. Triệu chứng trong viêm đại tràng mạn

2.1. Triệu chứng lâm sàng:

a. Triệu chứng toàn thân:

Người bệnh mệt mỏi, ăn ngủ kém, chán ăn, đầy bụng, giảm trí nhớ, hay cáu gắt, có thể có sốt. Nếu bị bệnh nặng thì cơ thể gầy sút hốc hác.

b. Triệu chứng cơ năng:

– Đau bụng:

+ Vị trí đau: xuất phát đau thường là ở vùng hố chậu hai bên hoặc vùng hạ sườn phải và trái (vùng đại tràng gan góc, góc lách). Đau lan dọc theo khung đại tràng.
+ Tính chất, cường độ đau: thường đau quặn từng cơn, có khi đau âm ỉ. Khi đau thường mót “đi ngoài”, “đi ngoài” được thì giảm đau.

+ Cơn đau dễ tái phát

– Rối loạn đại tiện:

+ Chủ yếu là ỉa lỏng nhiều lần một ngày, phân có nhầy, máu.

+ Táo bón, sau bãi phân có nhầy, máu.

+ Táo lỏng xen kẽ nhau (viêm đại tràng khu vực).

+ Mót rặn, ỉa già, sau “đi ngoài” đau trong hậu môn.

c. Triệu chứng thực thể:

– Ấn hố chậu có thể có tiếng óc ách, chướng hơi, ấn dọc khung đại tràng đau.

– Có thể sờ thấy “thừng xích ma” như một ống chắc, ít di động.

2.2. Triệu chứng cận lâm sàng:

a. Xét nghiệm phân: Có thể thấy hồng cầu, tế bào mủ; Albumin hoà tan (+); Trứng của các loại ký sinh trùng, amip, lamblia; cấy phân tìm vi khuẩn gây bệnh có thể (+).

b. Soi trực tràng: thường thấy hiện tượng viêm long niêm mạc, sức bền niêm mạc kém, có thể có các vết loét trợt, ổ loét được phủ lớp nhày trắng, xuất huyết, các ổ áp xe nhỏ, hình ảnh teo đét niêm mạc, các vết sẹo xen kẽ các tổn thương đang hoạt động. Sinh thiết đại tràng thấy hình ảnh viêm mạn tính, các tuyến tăng sinh hoặc thưa thớt, tuỳ theo hình thái bệnh lý có thể thấy tế bào tăng tiết nhày hoặc teo đét.

c. Chụp khung đại tràng có chuẩn bị: Cần phải chụp 2 lần,có thể thấy hình ảnh viêm đại tràng mạn: Hình xếp đĩa; hình bờ thẳng, bờ không rõ; hình hai bờ.

– Cần phân biệt với các hình dị thường của đại tràng: đại tràng to, dài quá mức, các hình khuyết (trong ung thư), hình túi thừa, các polip đại tràng.

d. Xét nghiệm máu: Hồng cầu, huyết sắc tố, bạch cầu, máu lắng ít thay đổi.

3. Điều trị viêm đại tràng mạn:

Tùy theo nguyên nhân mà có thuốc điều trị đặc hiệu khác nhau. Do đó để điều trị hiệu quả người bệnh cần đến những cơ sở y tế có uy tín để được xác chuẩn nguyên nhân từ đó mới có phác đồ điều trị hợp lý.

Ngoài việc điều trị, chế độ ăn uống đóng vai trò rất quan trọng cho người bệnh. Ăn uống hợp lý, đúng cách có thể giảm đi sự tác động của các triệu chứng. Nhưng ngược lại, nếu chế độ ăn uống không khoa học có thể làm các triệu chứng của bệnh trở nên nặng hơn. Dưới đây là một số lưu ý về chế độ ăn với bệnh nhân viêm đại tràng mạn:

– Nguyên tắc chung: phải ăn uống hợp vệ sinh, thực hiện ăn chín, uống sôi, không ăn thức ăn đã bị ôi thiu, thức ăn được chế biến từ thực phẩm nhiễm bệnh, thức ăn tanh sống.

– Những ngày không đau người bệnh nên tăng cường tẩm bổ để tăng cường sức khỏe, có sức đề kháng để chống lại bệnh tật.

– Khi bị đi lỏng, phân nát, đi ngoài nhiều lần trong ngày: không nên ăn rau sống, hoặc các loại có chất xơ dạng không tan như cellulose; khi ăn trái cây thì cần gọt vỏ  (kể cả nho); không ăn chuối, nhất là chuối tiêu; không ăn các loại quả đóng hộp, trái cây khô.

– Khi bị táo bón: bệnh nhân nên ăn những thức ăn có bổ sung nhiều chất xơ chứa trong các loại hoa quả và rau xanh. Cũng nên ăn nhiều bữa nhỏ trong ngày, tránh ăn quá no. Nên uống nhiều chất lỏng (1,5- 2 lít/ ngày) để đủ lượng nước cho cơ thể hoạt động và ngăn ngừa táo bón,đồng thời tránh khả năng mất nước do đi lỏng.

– Hạn chế mỡ, các sản phẩm từ sữa, các chất cay nóng, tránh chất kích thích như cà phê, rượu bia, trà, soda và nước giải khát có ga…

– Tránh các thuốc giảm đau, kháng viêm không streroid.

– Tránh căng thẳng, lo âu, tăng cường thể dục thể thao để nâng cao sức khỏe.

Add Comment