Viêm loét đại tràng là gì? Tìm hiểu về căn bệnh viêm đại tràng

Viêm loét đại tràng là tình trạng viêm lớp niêm mạc trong cùng của đại tràng, có thể gây ra những đợt đi ngoài phân toàn nước hoặc đi ngoài ra máu và đau bụng dữ dội.

Viêm loét đại tràng có liên quan chặt chẽ với các bệnh lý viêm nhiễm khác của ruột gọi là bệnh Crohn. Tuy nhiên viêm loét trực tràng chỉ xảy ra ở ruột già,  không giống như bệnh Crohn, tổn thương có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào trong đường tiêu hóa và thường lây lan sâu vào các lớp mô bị ảnh hưởng.

1. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân của viêm loét đại tràng đến nay vẫn chưa được xác định rõ. Người ta nghi ngờ có một số yếu tố gây bệnh như sau:

– Viêm loét đại tràng xuất hiện do sự hoạt động bất thường của hệ thống miễn dịch trong ruột khi chống lại sự xâm nhập của các vi sinh vật có hại như vi khuẩn hoặc vi rút, nấm hoặc các yếu tố ngoại nhập khác.

– Yếu tố di truyền: Bệnh không lây lan nhưng có khả năng di truyền. Tỷ lệ mắc bệnh này cao khi bố mẹ, anh chị em ruột bị viêm loét đại tràng.

– Môi trường: Bệnh xảy ra cao hơn đối với dân thành thị và ở các nước công nghiệp. Có thể nguyên nhân gây bệnh là do chế độ ăn uống nhiều chất béo và các sản phẩm tinh chế làm bệnh có tỷ lệ mắc cao hơn.

– Dùng khánh sinh: điều trị kháng sinh có thể dẫn đến viêm loét đại tràng do  kháng sinh phá vỡ hệ vi khuẩn bình thường trong đường ruột.

Yếu tố nguy cơ

Viêm loét đại tràng xảy ra ở cả nam và nữ, yếu tố nguy cơ có thể bao gồm:

– Tuổi: Viêm loét đại tràng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp phải ở độ tuổi 30. Một số người có thể không phát bệnh cho đến tuổi 50 hoặc 60.

– Chủng tộc hay sắc tộc: Người da trắng có nguy cơ cao nhất của bệnh. Nếu là người gốc Do Thái, nguy cơ còn cao hơn.

– Lịch sử gia đình: Có nguy cơ cao nếu có người thân  như anh chị em ruột, cha mẹ hoặc con bị căn bệnh này.

– Sử dụng Isotretinoin (Accutane): Isotretinoin (Accutane) là một loại thuốc đôi khi được dùng để điều trị sẹo mụn trứng cá hoặc không đáp ứng với điều trị khác. Mặc dù hậu quả chưa được chứng minh nhưng các nghiên cứu đã báo cáo sự phát triển của bệnh viêm ruột với việc sử dụng isotretinoin.

– Sử dụng các thuốc chống viêm không steroid như: ibuprofen, naproxen, diclofenac, piroxicam….   những loại thuốc này có thể làm cho loét đại tràng hiện có tồi tệ hơn, và có thể làm cho chẩn đoán ban đầu khó khăn hơn.

2. Triệu chứng:

Các triệu chứng thường gặp của viêm loét đại tràng bao gồm chảy máu trực tràng, đau bụng, tiêu chảy, táo bón. Biến đổi của các triệu chứng phản ánh sự khác biệt trong mức độ bệnh và cường độ của viêm. Các loại khác nhau của viêm loét đại tràng được phân loại theo vị trí và mức độ của viêm:

– Viêm loét trực tràng: la tình trạng viêm chỉ giới hạn ở trực tràng. Một số bệnh nhân chỉ có triệu chứng chảy máu trực tràng nhẹ, không liên tục và có thể là triệu chứng duy nhất. Một số bệnh nhân khác thì triệu chứng viêm trực tràng có vẻ nặng hơn như đau vùng trực tràng, cảm giác đi tiêu bức bách (đột ngột cảm thấy muốn đi tiêu và không chịu nổi vì sợ dơ), và cảm giác mót rặn, đau oặn (đau khi ruột cử động).

– Viêm loét đại tràng xích-ma và trực tràng: (đại tràng xích-ma là một đoạn ngắn nối với trực tràng). Triệu chứng của viêm loét đại tràng xích-ma và trực tràng, cũng giống với viêm loét trực tràng, bao gồm chảy máu trực tràng, cảm giác đi tiêu cấp bách, buốt mót vùng hậu môn, đau oặn bụng. Một số bệnh nhân bị viêm loét đại tràng xích ma-trực tràng cũng có triệu chứng tiêu chảy có máu và đau oặn.

– Viêm loét đại tràng trái: bắt đầu từ trực tràng lan lên đoạn đại tràng bên trái (đại tràng sigmoid và đại tràng xuống). Triệu chứng của viêm loét đại tràng trái gồm tiêu chảy, phân có máu, đau oặn bụng dọc theo khung đại tràng trái, sụt cân…

– Viêm toàn bộ đại tràng: (gồm cả đại tràng phải, đại tràng trái, đại tràng ngang và trực tràng ). Triệu chứng của viêm loét toàn bộ đại tràng bao gồm ỉa ra máu, đau oặn bụng, sụt cân, mệt mỏi, sốt, đổ mồ hôi về đêm. Một số bệnh nhân bị viêm loét toàn bộ đại tràng có mức độ viêm nhẹ và có triệu chứng nhẹ, dễ dàng đáp ứng với điều trị thuốc. Tuy nhiên, bệnh nhân bị viêm toàn bộ đại tràng thường là bệnh nặng và khó điều trị hơn so với những người bị viêm loét đại tràng còn khu trú.

– Viêm đại tràng hồi cấp: hiếm gặp nhưng là dạng bệnh nặng của viêm loét toàn bộ đại tràng, có thể đe dọa mạng sống người bệnh. Bệnh nhân bị mất nước, đau bụng nặng,tiêu chảy ra máu kéo dài và thường bị choáng. Bệnh nhân có thể dẫn đến các biến chứng nặng hơn như vỡ đại tràng, giãn đại tràng, ngộ độc đại tràng do đại tràng bị giãn quá mức. Những bệnh nhân bị viêm đại tràng bùng phát và phình đại tràng do nhiễm độc cần phải nhập viện để điều trị bằng thuốc truyền tĩnh mạch. Nếu không đáp ứng với điều trị bằng thuốc, thì cần thiết phải phẫu thuật cắt bỏ đại tràng để phòng ngừa thủng đại tràng.

3. Biến chứng:

Việc điều trị đối với những bệnh nhân bị viêm loét trực tràng hoặc chỉ viêm đoạn cuối của đại tràng xuống thường chỉ cần sử dụng thuốc hoặc dung dịch thụt tháo là đủ. Các biến chứng nghiêm trọng thường rất hiếm ở những bệnh nhân này. Ở các trường hợp khác có thể gặp các biến chứng như:

– Thiếu máu do mất máu từ nơi bị viêm , đòi hỏi phải điều trị bổ sung thêm chất sắt hoặc truyền máu.

– Chảy máu nghiêm trọng.

– Ung thư đại tràng: Ung thư đại tràng là một trong những biến chứng được công nhận của viêm đại tràng mạn tính. Ung thư bắt đầu tăng sau 8-10 năm viêm đại tràng. Những bệnh nhân chỉ có viêm loét trực tràng có thể không tăng ung thư ruộ kết hơn so với những bệnh nhân viêm toàn bộ đại tràng. Nguy cơ ung thư cao thường gặp ở những người mà trong gia đình có tiền sử ung thư ruột già.

– Thủng đại tràng.

– Mất nước nghiêm trọng.

– Bệnh gan mật: viêm xơ hoá đường mật, làm cho viêm và nhiễm trùng đường mật hay tái phát có thể gây ra sốt hồi qui, vàng da, xơ gan, và cần phải ghép gan.

– Loãng xương.

– Viêm da, khớp và mắt.

– Tăng nguy cơ ung thư ruột kết.

– Megacolon.

4. Xét nghiệm và chẩn đoán:

Bác sĩ sẽ chẩn đoán viêm loét đại tràng sau khi loại trừ các bệnh khác có thể có các dấu hiệu và triệu chứng tương tự, bao gồm bệnh Crohn, viêm đại tràng thiếu máu cục bộ, nhiễm trùng, hội chứng ruột kích thích (IBS), viêm túi thừa và ung thư ruột kết. Để giúp xác định chẩn đoán viêm loét đại tràng, có thể có một hoặc nhiều xét nghiệm sau:

– Xét nghiệm máu: Để kiểm tra xem có thiếu máu hoặc nhiễm trùng hay không. Xét nghiệm máu để tìm sự hiện diện của một số kháng thể đôi khi có thể giúp chẩn đoán các loại bệnh viêm ruột, nhưng những thử nghiệm này có thể không chắc chắn cho chẩn đoán.

– Xét nghiệm phân: Lấy mẫu phân đem phân tích để loại trừ nguyên nhân nhiễm trùng và ký sinh trùng, vì những bệnh này cũng có triệu chứng giống như viêm loét đại tràng.

– Nội soi đại tràng: là xét nghiệm chẩn đoán nhạy nhất, cho phép quan sát toàn bộ đại tràng và sinh thiết để lấy mẫu làm xét nghiệm mô học. Bác sĩ dùng một ống nhỏ có thể bẻ cong được, đưa vào trực tràng (soi đại tràng xích-ma và soi đại tràng) cho phép bác sĩ quan sát trực tiếp bên trong lòng đại tràng giúp chẩn đoán bệnh và xác định mức độ lan rộng của tổn thương viêm loét đại tràng.Qua nội soi, bác sĩ sẽ lấy một mẫu nhỏ mô đại tràng (sinh thiết) để xác định mức độ nặng của tổn thương. Việc hiểu rõ về mức độ lan rộng, và độ nặng của viêm loét đại tràng là rất quan trọng trong việc lựa chọn trong số các biện pháp điều trị.

– Chụp X – quang đại tràng có bơm chất cản quang cũng có thể giúp chẩn đoán viêm loét đại tràng. Trong suốt thời chụp bằng baryt, một chất trắng được đưa vào trong trực tràng và vào đại tràng là Barium. Barium là một chất cản quang, làm cho hình ảnh đại tràng được rõ nét khi chụp. Chất barium kém chính xác hơn so với kỹ thuật quan sát trực tiếp trong chẩn đoán viêm loét đại tràng.

– CT scan: CT scan bụng hoặc khung xương chậu có thể được thực hiện nếu bác sĩ nghi ngờ một biến chứng của viêm loét đại tràng hay viêm ruột non mà có thể do bệnh Crohn.

5. Điều trị:

Nguyên tắc của diều trị viêm đại tràng mạn là điều chỉnh nhanh chóng các rối loạn tiêu hóa trong chứng viêm đại tràng( đau quặn bụng, kiết lỵ, đi ngoài hoặc táo bón kéo dài…); loại bỏ các yếu tố gây bệnh như vi khuẩn, nấm mốc, các chất độc hại trong thức ăn…; khôi phục niêm mạc đại tràng đã tổn thương và hệ vi sinh có ích đường ruột.

Một số thuốc được chỉ định:

– Điều trị chống viêm:

+ Thuốc kháng viêm: Thuốc chống viêm thường là bước đầu tiên trong điều trị các bệnh viêm ruột. Chúng bao gồm: Sulfasalazine (Azulfidine), mesalamine (Asacol, Rowasa) và olsalazine (Dipentum), Balsalazide (Colazal), corticosteroid.

+ Các thuốc ức chế miễn dịch:  như (Imuran) và mercaptopurine (Purinethol), cyclosporine (Neoral, Sandimmune), infliximab (Remicade), cao dán nicotin.

– Điều trị triệu chứng:

+ Chống tiêu chảy: Bổ sung chất xơ như bột psyllium (Metamucil) hoặc methylcellulose (Citrucel) có thể giúp làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh tiêu chảy nhẹ đến trung bình. Đối với tiêu chảy nặng hơn, có thể dùng loperamide (Imodium).

+ Thuốc giảm đau: Đối với đau nhẹ, bác sĩ có thể khuyên nên dùng acetaminophen (Tylenol, những loại khác). Không sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAID), chẳng hạn như aspirin, ibuprofen (Advil, Motrin, những loại khác) hoặc naproxen (Aleve). Đây là những thuốc có khả năng làm cho các triệu chứng nặng hơn.

+ Bổ sung sắt: Nếu có chảy máu đường ruột mãn tính, có thể phát triển bệnh thiếu máu do thiếu sắt. Việc bổ sung sắt có thể giúp khôi phục lại mức độ sắt bình thường và giảm thiếu máu.

– Phẫu thuật: Nếu chế độ ăn uống và lối sống thay đổi, điều trị bằng thuốc hoặc phương pháp điều trị khác không làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng, bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật. Phẫu thuật cắt toàn bộ đại trực tràng và làm hậu môn nhân tạo hoặc nối ruột non với hậu môn nếu điều trị nội khoa và các biện pháp điều trị khác không làm bệnh thuyên giảm. Từ 25 – 40% số bệnh nhân cuối cùng sẽ phải phẫu thuật.

Add Comment